tdin

MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT VẬT LIỆU KIM LOẠI - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI

Trích theo báo khoa học và đời sông.
MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT
VẬT LIỆU KIM LOẠI  - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

Những năm qua nhiều làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh được khôi phục và phát triển. Sự phát triển của các làng nghề đã đem lại hiệu quả khá cao trên nhiều phương diện. Tuy nhiên sự phát triển các làng nghề, trong đó có các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại do nhiều nguyên nhân đã dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Phân tích những yếu tố gây ô nhiễm môi trường ở các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại và những giải pháp khắc phục là nội dung chủ yếu mà tác giả muốn truyền tải tới bạn đọc.

Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại trong những năm gần đây đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế- xã hội (KT-XH) của các địa phương, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Những ưu điểm mang tính đặc thù của sản xuất làng nghề như sự linh động trong quản lý sản xuất-kinh doanh, sự phân công tự nhiên giữa các hộ về cung cấp và bao tiêu nguyên liệu, sản phẩm, đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cạnh tranh và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ sản xuất. Các sản phẩm từ làng nghề chiếm một tỉ trọng đáng kể trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời, góp phần quan trọng trong việc tận dụng phế thải kim loại trên phạm vi toàn quốc. Trong những năm tới, sản xuất sắt thép xây dựng ở các làng nghề còn có nhiều triển vọng phát triển.

Tuy nhiên, những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng cũng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này, mà các nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là:

- Công nghệ sản xuất lạc hậu; điều kiện cơ sở hạ tầng, trình độ lao động và mặt bằng dân trí thấp; những hạn chế về khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường ... làm tăng mức phát thải, lãng phí vật tư và ô nhiễm môi trường.

- Lực lượng lao động thủ công còn chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động ở các làng nghề, điều đó góp phần giảm giá thành sản phẩm nhưng lại làm tăng áp lực về dân số ở khu vực làng nghề, tác động tới môi trường KT-XH.

Những hạn chế trong tổ chức quản lý, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng đã cản trở việc thực hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường (BVMT) ở các làng nghề. Trong khi đó chúng ta chưa có các biện pháp quản lý và xử lý môi trường hiệu quả, nhất là các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại. Có thể lấy các kết quả nghiên cứu môi trường ở khu vực sản xuất sắt thép xây dựng xã Châu Khê, huyện Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh làm ví dụ.

Đến nay, ở xã Châu Khê, quy mô của làng nghề sắt thép Đa Hội trước đây đã phát triển ra các làng lân cận như Đa Vạn, Song Tháp, Trịnh Xá, Trịnh Nguyễn, Đồng Phúc, với 973 hộ sản xuất bao gồm các nghề : Đúc phôi thép, cán thép, mạ, làm đinh, đan lưới thép v.v... Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là sắt phế liệu được thu gom từ nhiều nguồn khác nhau trên toàn quốc, một số nhập từ Nhật Bản qua cảng Hải Phòng. Tổng sản lượng sắt thép các loại đạt gần 1000 tấn/ngày. Số lao động thường xuyên trong khu vực này khoảng 5000 đến 7000 người, trong đó lao động ở các nơi khác đến làm thuê chiếm trên 50%. 

Hầu hết diện tích đất ở và phần đất hai bên trục đường liên xã, dọc theo sông Ngũ Huyện Khê đã được sử dụng làm mặt bằng sản xuất. Các xưởng được xây dựng rất sơ sài, đồng thời là nơi tập kết nguyên - vật liệu, sản phẩm. Diện tích thao tác chật hẹp; hệ thống điện nước lắp đặt tuỳ tiện, không an toàn; đường giao thông chính của xã xuống cấp nặng và thường xuyên ách tắc do hoạt động vận chuyển quá tải; không có hệ thống cấp nước, thu gom nước thải từ các hộ sản xuất; các loại chất thải đều được dân đổ ra phía sau các nhà xưởng.

Máy móc, thiết bị sử dụng trong các làng nghề hầu hết là loại cũ, mua từ Trung Quốc hoặc mua thanh lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản phẩm tự tạo. Các thiết bị này lạc hậu, chắp vá, năng suất thấp và mức độ gây ô nhiễm môi trường cao.

Với sự phát triển về qui mô, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghệ lạc hậu cùng với ở đây không có một biện pháp giảm thiểu tác động môi trường nào dù là đơn giản nhất được áp dụng nên môi trường ở Châu Khê đã bị tác động khá nặng nề.

Thứ nhất: Tác động tới môi trường đất, nước, không khí.

Tải lượng các loại chất thải từ các hoạt động sản xuất trong 1 ngày của các làng nghề xã Châu Khê qua điều tra cho thấy: Xỉ kim loại, xỉ than từ 40 ( 50 tấn, nước thải từ 2600 đến 2700 m3, khí thải (chủ yếu là CO2) 255 tấn, bụi khoảng 6 tấn.

  Môi trường đất chịu tác động của các chất độc hại từ các nguồn thải đổ bừa bãi và nước mưa bị nhiễm bẩn ngấm xuống. Dải đất canh tác phía sau các hộ sản xuất đều bị bỏ hoang do ô nhiễm. Hàng năm mỗi hộ lấn ra xung quanh khoảng 20-50 m2 bằng các loại chất thải rắn.Ước tính trong khoảng 5 đến 7 năm tới, diện tích mặt nước và  đất canh tác liền kề các hộ sản xuất sẽ bị san lấp hoàn toàn hoặc không sử dụng được. Nước thải, nước mưa mang theo các chất độc hại làm ô nhiễm hệ thống nước mặt, nước ngầm

Môi trường không khí tại khu vực làng nghề bị ô nhiễm nặng do bụi và khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ cao từ các lò đúc, cán thép, máy cắt cóc, dập đinh, dệt lưới, xưởng mạ và các hoạt động vận tải.

Thứ hai: Tác động tới môi trường sinh thái-cảnh quan.

Các hoạt động sản xuất của làng nghề đã làm ô nhiễm và thay đổi hoàn toàn môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực. Vật tư, sản phẩm và các loại chất thải đổ xung quanh nơi sản xuất và cả trên đường giao thông; các nhà ở và xưởng xen nhau, bụi, mức ồn cao và liên tục..., đã tạo nên một khung cảnh hỗn loạn và ô nhiễm .

Lòng sông Ngũ Huyện Khê, đất canh tác và các ao hồ trong làng đã hoặc đang bị lấp dần bởi chất thải, không sử dụng được vào mục đích nào khác. Trong làng hầu như không còn cây bóng mát. ở một số ao nuôi cá đã có hiện tượng cá bị chết hàng loạt sau khi bơm nước từ sông Ngũ Huyện Khê vào .

Thứ ba: Môi trường lao động.

An toàn và sức khoẻ của nguời lao động trong làng nghề không được đảm bảo. Số giờ làm việc liên tục trung bình mỗi ngày 10 – 12 giờ trong điều kiện diện tích làm việc chật hẹp, mức ô nhiễm cao. Trong các nhà xưởng không có sự chuẩn bị nào cho an toàn cháy nổ, mặc dù ở khắp làng đều tiềm tàng những nguy cơ gây cháy nổ do điện, lò, hoá chất, xăng, dầu v.v... Trong các nhà mạ kẽm, các loại hoá chất độc hại (a xit, muối gốc xyanua, muối gốc crôm) không được bảo quản đúng quy định.

Hầu hết công nhân làm việc trong điều kiện thiếu hiểu biết về nghề nghiệp và an toàn lao động; không có trang bị bảo hộ lao động, do đó sức khoẻ suy giảm nhanh, tai nạn lao động xảy ra hàng ngày (nổ lò, điện giật, bị thương, có trường hợp chết người). ởó các lò nấu thép, xưởng mạ, sau thời gian làm việc lâu nhất là 5 năm, người lao động buộc phải bỏ việc vì không đủ sức khoẻ.

Thứ tư: Tác động tới sức khoẻ cộng đồng.

Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp và thường xuyên tới người lao động và dân cư trong làng nghề. Các loại bệnh thần kinh, đường hô hấp, ngoài da, khô mắt, điếc,... chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số dân cư trong khu vực làng nghề. Đặc biệt là tỷ lệ mắc các bệnh trên ở nhóm người tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất tương đương nhau.

Tóm lại, từ các kết quả nghiên cứu môi trường ở các làng nghề ở xã Châu Khê cũng như ở một số tỉnh khác ( Hà Tây, Nam Định ) đã cho thấy rõ các vấn đề môi trường bức xúc tại các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại nói chung ở nước ta.

Để khắc phục tình trạng này, chúng ta phải thực hiện tốt việc quản lý và BVMT. Chúng tôi cho rằng các địa phương có làng nghề cần sớm tiến hành những biện pháp về quản lý và kỹ thuật cụ thể, phù hợp với quy mô và khả năng của mình.

Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại:

Một là, về biện pháp quản lý:

Các địa phương có làng nghề cần có phương án tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư, quy hoạch xây dựng hợp lý khu công nghiệp  làng nghề mới và có kế hoạch quản lý tốt môi trường . Cụ thể là:

+ Đề ra những quy định về quản lý, BVMT và an toàn lao động trong các làng nghề; định mức và thu lệ phí môi trường đối với các hộ, tổ hợp sản xuất để triển khai và duy trì các hoạt động quản lý và BVMT của xã.

+ Thành lập đội vệ sinh môi trường của làng nghề (xã nghề) để kiểm tra thường xuyên tình trạng môi trường trong khu vực sản xuất, thu gom chất thải; xử lý bụi giao thông v.v...

+ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT và sức khoẻ cộng đồng cho các chủ sản xuất, người lao động và nhân dân;

+ Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra môi trường làng nghề; xử phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm các quy định về môi trường.

+ Triển khai  áp dụng các công nghệ tiến bộ trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm lượng phát thải, áp dụng biện pháp quản lý và xử lý chất thải đơn giản, rẻ tiền, để các hộ tư nhân có thể sử dụng.

+ Từng bước hoàn phục môi trường ở khu dân cư, trả lại cảnh quan sạch đẹp cho làng, xã.

Hai là, các biện pháp kỹ thuật:

·   Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại: Xây dựng hệ thống xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng dung dịch nước vôi; quy định các bãi tập kết xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu san nền.

·   Đối với các xưởng mạ kẽm: Xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn giản; các thùng chứa a xit, hoá chất mạ phải được bảo quản đúng quy định (có nắp kín, có nhãn ghi tên hoá chất rõ ràng); cặn mạ kẽm phải được chôn lấp theo quy định đối với chất thải độc hại.

·   Bố trí tập trung các hộ có máy cắt kim loại vào một khu cách xa các khu khác để giảm tiếng ồn cho xung quanh; đặt các quạt thông gió tại các vị trí công nhân đổ khuôn, nấu thép, các lò ủ thép, máy cắt kim loại, các nhà mạ kẽm ; trang bị bảo hộ lao động cần thiết và thích hợp cho công nhân ở từng khâu sản xuất.

·   Xử lý nước thải mạ kẽm theo phương pháp tương đối đơn giản là kết tủa, huyền phù, sau đó lắng và lọc bùn, cặn trong hệ thống bể xử lý sử dụng nước tuần hoàn.

Ngoài ra, cần nâng cấp và thường xuyên tu sửa các đoạn đường vận chuyển. Tổ chức phun nước chống bụi nhiều lần trong ngày. Đình chỉ hoạt động của các phương tiện vận chuyển có chất lượng quá kém. Các cơ sở sản xuất phải xây mái che và bờ ngăn nước cho các bãi chứa nguyên vật liệu, sản phẩm để giảm tối thiểu lượng nước mưa chảy tràn qua.

  Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại là một mô hình sản xuất mang tính cộng đồng cao, trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào sự phát triển KT-XH của các địa phương. Đây là một mô hình kinh tế cần được khuyến khích và hướng dẫn để phát huy những tính tích cực, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường và xã hội.

  Để phát triển mô hình làng nghề theo mục tiêu phát triển bền vững, các cơ quan quản lý ở các địa phương cần có kế hoạch cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp quản lý và các biện pháp kỹ thuật phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường trong khu vực làng nghề một cách có hiệu quả. ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần hỗ trợ một phần cho các địa phương giải quyết một số  vấn đề về cơ sở hạ tầng.
SẢN PHẨM HAY GIỚI THIỆU CHO BẠN
Tin khác
Quảng cáo

CopyRight by TDIN 2009.  Địa chỉ: KCN Trường An- An Khánh- Hoài Đức - Hà Nội  Điện thoại: 84-02437500794 Hot mobile: 0973002255

 Website: www.td-in.vn    www.td-in.com    email-01: tdin@td-in.vn    email-02: sale@td-in.vn users online:2 users online on page:1  total users: 4779795